Tôi quen uống trà pha trong những loại ấm, bình bằng gốm, thường là bình gốm Lái Thiêu, sau này có thêm gốm Biên Hoà vì gốm này cũng đẹp lạ. Về sau, khi ghé qua vài trà quán tôi biết thêm được bộ trà để dành cho người thưởng thức, loại ấm trà này cầu kỳ và thanh nhã. Ấm trà cầu kỳ nói lên ước vọng người thưởng trà muốn đạt tới một đẳng cấp cao.

Hôm nay, tôi dự buổi giao lưu về Tử Sa, nghe các nghệ nhân cổ ngoạn chia sẻ kiến thức về Ấm Tử Sa: loại ấm gốm ở vùng Nghi Hưng- Trung Quốc. Gốm Tử Sa là loại gốm có chất phôi mịn, láng; lượng sắt chiếm 9% ; nung ở nhiệt độ 1200°C; khi ra lò có màu nâu đỏ, hồng tím, tím đen độ cứng tốt …nguyên liệu là đất sét màu tím đỏ người ta gọi là tử sa. Ở Nha Trang cũng có dòng gốm Lư Cấm, đất Lư Cấm cũng cho ra sản phẩm gốm nổi danh vùng đất này.
Có thể Tử Sa có tính chất tốt, hiếm… nên được đưa vào loại đặc biệt. Có người ca ngợi đồ uống trà không gì tuyệt bằng ấm Tử Sa một phần nói lên điều đó, sản phẩm hiếm nên quý. Với suy nghĩ cá nhân, tôi nhìn hình dáng nhỏ xíu của ấm -chén tử sa thì suy luận do tử sa khó tìm, khó khai thác nên tạo hình nhỏ xíu để đỡ tốn đất! Khi tôi bày tỏ ý này với người bạn ngồi cạnh, ông ấy bật cười như thể vừa phát hiện ra một điều thú vị, dù sao cũng là một ý tưởng cá nhân vui. Sách về trà ghi rằng: không uống trong ấm lớn vì ấm nhỏ giữ hương vị trà khi pha, cùng với lý giải này tôi quan sát bộ trà đầy đủ trong một bàn trà người ta bày biện gồm: đầu tiên là một lò than (bây giờ có thể là bếp điện hay bếp ga); một siêu nấu; một hũ đựng trà; muỗng xúc trà; cân trà; một ấm pha trà; một dĩa lót ấm (cốt để giữ cho độ bằng phẳng khi đặt cái ấm); một gác nắp ấm (có thể nó là một dĩa hay một vật hình con thú mà chủ nhân thích); một thùng để chứa nước cặn (nước rửa bình); một khay trà; một chén tống; một lược trà; một chén ngửi hương trà; một muỗng để nạo bã trà; một que để thông vòi ấm; “khăn lau” bút lông (như chổi, cọ) để quét lên ấm; khi mà bàn trà lớn, người ta còn có thêm dụng cụ để mời trà (nó thay cho cái cánh tay nối dài của người pha trà khi người uống trà xa chỗ ngồi của người mời trà.

Ấm trà thường người ta không rửa bằng xà bông hay nước rửa chén, người thưởng trà chỉ tráng sơ ấm trà qua bằng nước sôi. Điều này dẫn đến một giai thoại rằng Phan Tự Tổ viết trong “Vận May và vận rủi của Trà” một đoạn liên quan, tôi xin trích ví dụ một đoạn:
“Tôi đã từng nhìn thấy chiếc ấm Nghi Hưng đã qua năm chục năm, nghe nói nước sôi rót vào trong liền có thể biến thành trà. Tôi mở nắp ấm ra nghiên cứu tỉ mỉ, chỉ thấy bên trong có một lớp màu xanh lục gần giống như lớp rêu xanh của đá, hiềm nổi không được có ánh sáng phản xạ như rêu đá mà thôi. Tôi đã uống nước ở trong ấm đó. Lúc đầu thực sự không chú ý lắm về sau các bạn bè tôi nói đây là trà do nước biến thành. Tiếp đó lại nói chiếc ấm này là một bảo bối đáng giá mấy ngàn mấy lượng, người ngoại quốc mua nhưng anh ta không bán, người ấy đã cảm thấy rất buồn. Tôi tràn đầy kinh ngạc, lại uống thêm một ngụm, cảm thấy giống hệt như nước trà. Tiếp đó anh ta đã nói một hồi những ý vị tinh tế khi nhắm mắt suy tưởng, rồi đến nước chuẩn bị như thế nào, thời gian bao lâu, độ sôi nóng bao nhiêu, lại nói tới ba điều không uống là: người đông không uống; tâm trí rối loạn không uống; say no không uống. Nói tới mức hoa trời rơi rụng, tôi lại đã uống thêm một ngụm nữa, cảm thấy quả thật là mình đang uống trà chứ không phải là đang uống nước. Đây có lẽ chính là vận may của trà” (hết trích)

Đọc đoạn này xong tôi nhớ lại đoạn trước khi Đường Minh Hoàng được cho hút á phiện, bọn họ nói với vua rằng chút nữa sẽ gặp cảnh thần tiên mà thế gian không đâu có, nơi đó là Nguyệt Điện, nhà vua sẽ được Hằng Nga ra tiếp kiến. Và y như vậy, sau khi tỉnh lại, Đường Minh Hoàng nói ông đã gặp Hằng Nga.
Có một dòng ấm tử sa hiệu Nghi Hưng mang hồn Việt rất đáng chú ý của nhà sưu tập Nguyễn Ngọc Tuấn tại thành phố Hồ Chí Minh. Ông Tuấn bắt đầu kinh doanh ấm tử sa từ năm 2003, đầu tiên ông đặt ấm về trưng bày, mở trà đạo, bạn bè đến chơi thấy đẹp họ hỏi mua, nhờ đặt hàng…riết rồi ông thành nghề kinh doanh ấm tử sa chuyên nghiệp luôn, ông trực tiếp đến thẳng các lò, đặt ấm, chọn ấm, chọn chén, chọn khai… những sản phẩm đó ông cho khắc họa điển tích của Việt Nam với hình ảnh phong cảnh Việt Nam rất… Việt Nam. Đến năm 2010 ông có ý tướng mới với ký kiểu lên ấm, ông mời thư pháp Giang Phong viết thư pháp Việt những chữ Tâm, Phúc, Lễ, Trà, Tâm Bình Thế Giới Bình,… vân vân tiếp theo ông mời những họa sĩ ký họa bút sắt phong cảnh Việt Nam lên ấm, ấm ông đặt ở lò Trung Quốc, ký kiểu Việt Nam. Bộ sưu tập ấm tử sa ký kiểu độc đáo nhất của Nguyễn Ngọc Tuấn là bộ vẽ họa tiết Cửu Đỉnh triều Nguyễn.
Nói ấm thì buộc phải nói đến trà, sau thế kỷ 18- 19 ở Hà Nội đã hình thành 3 chợ chuyên doanh về trà đó là chợ Hàng Đào, chợ Hàng Cá, chợ Hàng Chè …thời đó những bánh chè được gói kỹ trong lá chuối khô hình tròn được đóng ép bằng hơi nước nóng, nhập thị trường trà đi bằng đường sông Hồng qua Mạn Hảo Lào Cai. Trong sách ”Hà Nội Phố Phường Xưa” xuất bản năm 1991 của Hoàng Đạo Thúy (1897 -1994) cho biết chuyện uống trà và buôn bán trà ở Hà Nội thời xưa những người cầu kỳ cứ phải lên tới tiệm mua trà về pha, “khách trú” đem sang bán những hòm trà dán tranh rất đẹp: hình núi Vũ Di, có con khỉ hái chè, thạp xanh, thạp da bò, da lươn đựng những bao chè bằng thiết chè tàu nổi tiếng… vài năm sau những nhà buôn tinh khôn ấy chỉ còn chở sang những bao bì thôi còn “nội dung” thì họ đã phát hiện ra chè Thái Nguyên, chè Phú Thọ có chất chè gấp 2 chiếc chè của họ thế là họ bí mật mua về đem lấy hương chế thành hai thứ chè: chè Thanh Tâm và chè ô long…họ mua chè của mình rồi đem về chế biến mang trở qua bán lại mình…” (hết trích).
Hình thức kinh doanh gần giống nhau, chỉ khác là ông Tuấn mua hàng Tàu bán cho người Việt, “khách trú” mua hàng Việt bán người Việt. Tựu trung lại để có giá khi người mua chuộng đồ ngoại.
Bởi ngày nay nhiều người nghiêng về hình thức, lẽ vì, lễ nghi tiết tháo, lẽ vì muốn phô trương nên thị trường phát sinh theo nhu cầu đời sống, các nghệ nhân ngày đêm sáng tác theo thị hiếu… Mỹ thuật dần lùi bước cho nhu cầu thị trường đi lên. Cùng với chiều hướng đó, một dự án quảng bá sản phẩm toàn cầu bắt đầu. Thậm chí, một nông dân như tôi cũng nuôi trong đầu suy nghĩ, sẽ tìm đem về bàn trà nhà mình một bộ ấm chén tử sa dù nhà đã có ấm Lái Thiêu, ấm Biên Hoà.
Trớ trêu.
Nguyễn Kiều Phương




