Nhà văn Huỳnh Tâm Hoài là rể của Trung Hoc Chợ Lách, là chồng của chị Chích Chị ở xã Vĩnh Bình, Anh năm nay trên 80 tuổi. Vừa viết xong quyển Văn Minh Miệt Giồng Nam bộ, có nhả ý muốn giới thiệu nhiều kỳ trên trang THCL.com. Xin giới thiệu cùng ban đọc.
Muốn hiểu về vùng đất Miệt Giồng, trước hết phải trở về với dòng sông Mê Kông –dòng sông đã tạo nên một trong những vùng đồng bằng trù phú nhất của Đông Nam Á.
Sông Mê Kông bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng (Trung Quốc), chảy qua nhiều quốc gia trước khi tiến vào Việt Nam. Từ Campuchia, dòng sông hùng vĩ này đi vào vùng
đất An Giang rồi chia thành hai nhánh lớn: bên phải là sông Bassac, khi vào Việt Nam gọi là sông Hậu; bên trái là dòng chính Mê Kông, được người Việt gọi là sông Tiền.
Hai con sông ấy tiếp tục chia ra thành nhiều nhánh nhỏ, mang theo lượng phù sa khổng lồ bồi đắp cho vùng đồng bằng Nam Bộ. Qua hàng ngàn năm, những lớp phù sa ấy
không ngừng vun bồi, mở rộng đất liền lấn ra phía biển, tạo nên một vùng châu thổ rộng lớn, màu mỡ và đầy sức sống.
Người dân Nam Bộ thường gọi dòng sông này bằng những cái tên thân thương như sông Cái, sông Lớn hay sông Cửu Long. Cái tên Cửu Long bắt nguồn từ chín cửa sông đổ ra biển Đông, nơi những dòng nước cuối cùng mang phù sa bồi đắp thêm ra cho thềm lục địa phía nam Việt Nam. Chín cửa sông ấy gồm: cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu, cửa Bát Xắc, cửa Định An và cửa Tranh Đề.
Chính nhờ những dòng sông này mà vùng đất Nam Bộ ngày càng được mở rộng ra về phía biển. Những bãi bồi, những cồn cát, những giồng đất dần dần xuất hiện giữa vùng sông nước mênh mông. Từ những vùng đất còn hoang sơ, con người đã đến khai phá, dựng làng, lập nghiệp, tạo nên một nền văn minh đặc thù của miền châu thổ. Dòng sông vẫn luân lưu, dòng sông vẫn chảy. Đó là một phần căn nguyên hình thành nên vùng đất
Miệt Giồng đến ngày nay.

Nhạc sĩ Trúc Phương có thời gian sống ở Vĩnh Long. Ông có viết một ca khúc “Chín Dòng Sông Hò Hẹn” ghi sơ nét sinh hoạt của miền đất nầy.
Em về đó biển xanh đất rộng
nên phù sa đổ chín cửa sông
Nơi em qua đất mở lời yêu
lúa nhớ em thật nhiều
từ say ngất giọng hò chiều
Qua bờ bãi mùa điên điển trổ
Bông vàng mơ nhớ quá nồi kho
Quê nuôi khôn mến từng hạt cơm
nếu có khi giận hờn
Tình quê vẫn là tình quê
Dòng sông con nghiêng nghiêng bỗng nhớ
Nắng mai non nắng đỗ tàu dừa
Sáo diều lung linh gió
giấc ngủ bờ tre trưa
Lời tình tiếng võng đu đưa
Gian khổ mấy đời ta cũng chịu
Môi tìm môi để biết tình yêu
Em xun xoe áo lụa hài thêu
Chín tiếng sông hò hẹn
Lòng quê đáp lại tình quê
TỪ ĐẤT HOANG ĐẾN XÓM LÀNG
Buổi đầu, vùng đất phương Nam còn nhiều lau sậy, rừng cây, sông rạch và những vùng ngập nước như đã nói.
Con người đến khai phá từng phần. Một vài mái nhà xuất hiện trước. Rồi thêm những gia đình khác đến ở.
Người ta mở lối đi, đào mương, khai ruộng, trồng cây, lập vườn. Những mái nhà gần nhau thành xóm. Nhiều xóm nối lại thành làng. Làng quê vì thế không tự nhiên mà có.
Nó được hình thành từ công sức của nhiều thế hệ đã đến khai phá và gắn bó với vùng đất.

TRÀ VINH – VÙNG ĐẤT GIỮA HAI DÒNG SÔNG
Trà Vinh nằm giữa sông Cổ Chiên và sông Hậu, đồng thời hướng ra biển Đông.
Vị trí ấy tạo nên một không gian đặc biệt, nơi nước sông, phù sa, thủy triều và biển cùng tác động lên quá trình hình thành đất đai. Sông Cổ Chiên và Sông Hậu chảy ra biển. Thủy triều đưa nước mặn vào tạo thành vùng nước lợ nơi các cửa sông, làm cho đất đai và nguồn nước ở Trà Vinh mang những đặc điểm riêng.
Bởi vậy, hình dáng của Trà Vinh hôm nay là kết quả của một quá trình lâu dài giữa sông, phù sa, biển, cây cối như đước, bần, tràm giữ đất.
Từ hai dòng sông lớn nầy dòng sông đã chia nhánh vào châu thổ với nhiều sông, rạch, mương nước và ao hồ, đầm bàu.

SÔNG RẠCH, MƯƠNG NƯỚC, AO HỒ, ĐẦM BÀU
Miệt giồng Nam Bộ không chỉ có những dải giồng cao, ruộng đồng và vườn cây mà còn có một hệ thống sông rạch, mương nước, ao hồ, đầm bàu đan xen khắp nơi. Sông rạch lớn nhỏ vừa dẫn nước, vừa là đường giao thông của người xưa. Khi đường bộ chưa phát triển, người dân đi lại chủ yếu bằng xuồng ghe..
Mương nước
Thường được đào quanh vườn, ven ruộng để dẫn nước, thoát nước và tưới cây. Mương cũng là nơi cá, tôm, cua, ốc sinh sống. Người dân có thể đặt lờ, đặt lọp, giăng lưới hoặc câu vài con cá làm thức ăn cho gia đình.
Ao, hồ, đầm, bàu
Là những khoảng nước lớn nhỏ, có nơi do thiên nhiên tạo thành, có nơi do con người đào đắp.Vào mùa mưa, nước đầy, cá tôm sinh sôi; đến mùa nước rút lại có cảnh tát ao, bắt cá, mò cua, bắt ốc, tạo nên những sinh hoạt rất quen thuộc của miền quê.
Sông rạch, mương nước, ao hồ, đầm bàu không chỉ góp phần tạo nên diện mạo thiên nhiên mà còn nuôi sống con người, hình thành cách đi lại, lao động và sinh hoạt của cư dân.
LỜI KẾT
Dòng Mekong và những phần khác của hệ thống sông ngòi, không chỉ mang nước.
Nó mang phù sa, tạo đất và mở ra môi trường sống cho con người.
Từ những lớp phù sa, bãi bồi và những con giồng, xóm làng dần hình thành.
Trên nền đất ấy, con người tiếp tục khai phá, dựng nhà và tạo dựng cuộc sống.
Miệt Giồng vì thế là kết quả của cả thiên nhiên và bàn tay con người – một vùng đất sinh ra từ dòng nước, phù sa và thời gian.
HUỲNH TÂM HOÀI





